Văn mẫu lớp 11

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

– Dẫn dắt giới thiệu tác giả, tác phẩm: Hàn Mặc Tử là ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời thơ mới với cái đuôi chói lòa rực rỡ”. Đời thơ của ông ngắn ngủi song lại có sức sáng tạo phi thường,gắn với những cảm xúc mãnh liệt với một cuộc đời nơi trần thế. Trong đó,bên cạnh những vần thơ đau đớn,người đọc bắt gặp những dòng thơ trong trẻo tuyệt mĩ. Đây thôn Vĩ Dạ là 1 trong những hồn thơ trong trẻo ấy của hồn thơ Hàn Mặc Tử.

– Nêu vấn đề: bức tranh thơ mộng của cảnh đẹp thôn Vĩ

– Đánh giá chung

2. Thân bài:

– Khổ 1:

* Câu mở đầu:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ? “

– là một câu hỏi tu từ

– Như một lời trách móc nhe nhang mà cũng là một lời mời mọc của cô gái xứ Huế

– Là sự phân thân của tác giả tự hỏi chính mình

=> thể hiện niềm ao ước về thăm thôn Vĩ

* Cảnh Vĩ Dạ :

– Hình ảnh:

+ Hàng cau: nắng chiếu vào những tán cau còn ướt đẫm sương đêm =>lung linh như ngọc

+ Khu vườn: xanh mướt, tươi tốt, tràn đầy sức sống nhờ đôi bàn tay chăm sóc khéo léo, chu đáo của cô gái.

+ Mặt chữ điền: gương mặt phúc hậu, không hiện lên rõ ràng mà ẩn hiện, lấp ló sau cành trúc

=> hình ảnh hiện lên như thực mà lại như mơ

=> Thôn Vĩ vừa đẹp canh lại vừa đẹp người

=>khao khát về thăm thôn Vĩ

– Khổ 2:

* 2 câu đầu:

– “gió – mây”

+ chuyển động trái ngược nhau

+ trên thực tế chúng vốn gắn bó, song hành cùng nhau

+ gợi sự chia lìa, xa cách

– dòng nước:

+ dòng sông Hương xứ Huế

+ chảy chậm, lững lờ trôi qua thành phố Huế mộng mơ

+ buồn thiu: biện pháp nghệ thuật nhân hóa => mang tâm trạng của con người

=> thiên nhiên cảnh vật rời rạc, trái ngược nhau

* 2 câu sau:

– Hình ảnh sông Hương trong đêm trăng:

+ sông trăng

+ Ánh trăng vàng sáng loáng cả mặt nước => lung linh, huyền ảo

– Con thuyền:

+ là phương tiện chở khách qua sông

+ con thuyền được dùng để chở trăng

=> câu thơ hé mở tâm trạng của chủ thể trữ tình:

+ niềm khao khát, nỗi ngóng trông

+ mặc cảm về số phận

– Khổ 3:

* 2 câu đầu:

– “khách đường xa”

+ tác giả

+ người con gái xứ Huế

– “mơ”

+ niềm khao khát về thăm xứ Huế

+ hi vọng người con gái sẽ vượt đường sá xa xôi đến thăm mình

– áo trắng: tà áo dài trắng mà người con gái xứ Huế mặc

+ quá: làm tăng thêm cái đẹp của cô gái

* 2 câu sau:

– ở đây: nơi nhà thơ chữa bệnh

– nhân ảnh: hình bóng con người

=> khao khát tìm đến thế giới bên ngoài kia, tìm đến tình yêu thương, sự đồng cảm, sẻ chia

– ai: phiếm định, xác định

=> sự băn khoăn, hoài nghi của chủ thể trữ tình về tình cảm của người con gái xứ Huế với mình

=> bộc lộ tình yêu tha thiết

3. Kết bài:

– Khái quát lại nội dung tác phẩm

– Phát biểu cảm xúc cá nhân

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Bài làm tham khảo

Hàn Mặc Tử là ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời thơ mới với cái đuôi chói lòa rực rỡ”. Đời thơ của ông ngắn ngủi song lại có sức sáng tạo phi thường,gắn với những cảm xúc mãnh liệt với một cuộc đời nơi trần thế. Trong đó,bên cạnh những vần thơ đau đớn,người đọc bắt gặp những dòng thơ trong trẻo tuyệt mĩ. Đây thôn Vĩ Dạ là 1 trong những hồn thơ trong trẻo ấy của hồn thơ Hàn Mặc Tử. Bài thơ vẽ lên bức tranh thơ mộng của cảnh đẹp thôn Vĩ  nói riêng, xứ Huế ns chung, trong  đó có hình ảnh người thiếu nữ xứ Huế, là tiếng lòng của 1 con người tha thiết yêu đời,yêu người. Trong đó bức tranh thôn Vĩ được gợi tả đẹp nhất ở khổ thơ thứ nhất:

“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Thuyền ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ với một loạt thanh bằng:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Lời thơ thật dịu ngọt trìu mến mà lại như một lời trách móc xa xôi nhẹ nhàng và cũng thật chân thành,  kín đáo biết mấy. Đó là lời của người con gái trước sự vô tâm, vô tình “không về chơi” của tác giả hay là tiếng lòng của thi sĩ đang tự hỏi chính mình? Cả câu thơ đượm buồn pha chút hối hận, tiếc nuối. Chỉ một câu thơ thôi mà toát lên cả một nỗi lòng, toát lên cả một niềm ao ước được một lần trở về thăm mảnh đất thôn Vĩ thân thương. Và câu hỏi ấy lại trở thành cái cớ để đưa tâm tưởng của nhà thơ trở về với cảnh sắc bình yên nơi thôn Vĩ:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

Thi nhân đang đắm mình trong màu nắng tinh khôi, tươi đẹp của buổi sớm mai khi những tia sáng đầu tiên “ùa” xuống trần thế. Nắng soi rọi lên những tàu cau còn ướt đẫm sương đêm biến những giọt sương vốn nhỏ bé bình thường thành những viên ngọc trai trong suốt nổi bật trên nền màu xanh của lá. Cả một khoảng không gian ngây ngất, huyền ảo trong màu nắng mới dịu nhẹ, dễ chịu. Hình ảnh gợi ta đến với hồn thơ của Nguyễn Bính:

“Nhà em có một giàn trầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng”

Điệp từ “nắng” cùng âm điệu vút cao càng làm tăng lên cái cảm xúc rộn ràng của thi nhân. Chỉ có thôn Vĩ mới có cảnh đẹp đến như vậy?  Trên hết, cảnh đạt đến ngưỡng kì diệu như vậy cũng phần nào nhờ vào sự góp mặt của một tâm hồn nghệ sĩ, một cái nhìn đầy tinh tế cùng tình yêu đến cháy bỏng.

Thiên nhiên mà tác giả đang vẽ ra được gợi từ bao quát đến cu thể rồi từ cao xuống thấp:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Lòng người đang ngỡ ngàng trước khu vườn mướt xanh. Đại từ phiếm chỉ “ai” trong “vườn ai” được dùng với ý nghĩa xác định. Có lẽ nó hướng đến hình ảnh của người con gái thôn Vĩ cùng mình vườn của cô. Khu vườn ấy bừng sáng lên cùng ánh nắng chan hoà. Cái bừng sáng ấy keo theo cả một khoảng không gian bừng sáng và rực rỡ hơn. Cách nói ấy còn gợi mở đến một khu vườn cây trái xanh tốt, xum xuê đang phát triển mạnh mẽ nhờ có đôi bàn tay khéo léo của người con gái. Khu vườn ấy đã mang màu xanh lại còn được chấm phá thêm bằng từ “mướt” càng làm cho màu xanh ấy mang một thần thái căng tràn và tươi mát hơn. Xuân Diệu cũng đã từng viết:

“Đổi trời xanh ngọc qua muôn lá

Thu đến nơi nơi động tiếng huyền”

Cảnh đẹp lay động lòng người nhưng vẻ đẹp con người nơi đây càng làm rung động cõi lòng ấy hơn:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu thơ làm sống dậy một nét tao nhã êm đềm rợp bóng trúc. Bên cạnh đó còn kết đọng vẻ đẹp kín đáo, thanh quy của con người thôn Vĩ thấp thoáng sau tan trúc che ngang gương mặt chữ điền. Ca dao cũng từng có lần nhắc đến:

“Mặt em vuông tựa chữ điền

Da em thì trắng áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa có lời thuỷ chung”

Cảnh thôn Vĩ lung linh, người thôn Vĩ thuỷ chung là những gì Hàn Mặc Tử muốn gửi gắm qua những vần thơ mở đầu. Đằng sau lời khen gợi cảnh sắc là cả một tấm lòng khao khát giao cảm với đời, khao khát được trở về hoà nhập với cuộc sống.

Nếu như trong khổ thơ thứ nhất thôn Vĩ yên ả, lung linh, tươi sáng trong màu nắng tinh khôi, trong màu xanh tươi mát của vườn cây trái được tái hiện lại với giọng thơ đầy tha thiết thì sang đến khổ thơ thứ hai lại mở ra cảnh sông nước mây trời xứ Huế nhuốm màu chia lìa, đau thương:

“Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Với nhà thơ, thôn Vĩ chỉ còn lại trong hoài niệm, trong miền kí ức xa xăm của con người khao khát sự giao cảm, tình yêu. Phải chăng vì lẽ đó mà những kỉ niệm cứ thế mà ùa về nhưng cũng không còn tươi tắn như thôn Vĩ vào buổi sáng mai nữa mà chỉ còn lại đó một dòng sông Hương xứ Huế với mây và gió? Trong sự vận động của thiên nhiên, cũng như nước chảy thuyền trôi thì gió thổi mây bay. Ấy vậy mà dưới ngòi bút, cảm nhận của Hàn Mặc Tử chúng lại chuyển động trái ngược nhau: lối gió – đường mây. Mây và gió được nhắc lại đến hai lần trong cùng một câu thơ cùng với lối di chuyển ngược nhau càng khiến khoảng cách giữa chúng như rộng hơn, trống trải hơn. Giữa ngoại cảnh và tâm cảnh giờ đây là sự đồng nhất đến tuyệt đối mang đến sự trầm lắng bao trùm lên cả cái dài rộng của sông nước:

“Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Nhịp thơ chậm rãi, nhẹ nhàng như cái hồn của người dân xứ Huế. Cảnh đẹp nhưng vẫn thấm đượm nỗi buồn của lòng người qua biện pháp nghệ thuật nhân hóa. Cảnh còn được chấm phá những bông hoa bắp mới trổ nhưng cũng chỉ khẽ lung lay trong gió. Thiên nhiên, cảnh vật rời rạc, trái ngược nhau gợi sự chia lìa xa cách. Buồn của sông đâu đó ta cũng đã từng bắt gặp những vần thơ như vậy:

“Con sông dùng dằng con sông không chảy”

Có thể thấy niềm vui của nhà thơ thật ngắn ngủi, phút chốc đã chuyển sang một nét u buồn, ảm đạm. Phải chăng sự chia lìa, xa cách của thiên nhiên cũng là sự chia lìa xa cách của nhà thơ với người xứ Huế, cũng là sự mặc cảm về thân phận. Khoảng cách giữa nhà thơ với người con gái không chỉ còn là khoảng cách về không gian, thời gian mà là khoảng cách của số phận.

Sự chuyển mình của thời gian cũng là sự chuyển biến về cảnh vật:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Hai câu thơ là hình ảnh sông Hương đêm trăng sáng. Nhưng đó không còn là một dòng sông của sống nước như trong thơ của Huy Cận nữa mà đã trở thành dòng sông của ánh trăng lung linh, huyền ảo – sông trăng. Dòng nước kia vốn đượm buồn đã hóa thành sông trăng mang một vẻ đẹp kì diệu, mộng ảo. Dường như thiên nhiên đang thấm đẫm một màu trăng và có lẽ cũng chỉ có Hàn Mặc Tử mới có thể vẽ lên một sông trăng trong thơ đang chú ý đến như vậy. Sông không chỉ có ánh trăng mà còn có thuyền nhưng lại là “thuyền ai” và con thuyền ấy lại chở trăng:

“Có chở trăng về kịp tối nay”

Câu thơ hé mở tâm trạng của chủ thể trữ tình. Lòng người đang khao khát, đang ngóng trông? Thi nhân đang gửi gắm nỗi ngóng trông, mong chờ hạnh phúc qua hình tượng “trăng”. Còn nữa là niềm lo lắng, trăn trở liệu rằng: thuyền có chở trăng về kịp tối nay? Chữ “kịp” hé lộ những mặc cảm về thời gian còn quá ngắn ngủi trong cuộc đời mà điều tác giả muốn làm lại vô cùng khó khăn. Ẩn sau ý thơ là niềm khao khát được gắn bó, hòa nhập với cuộc sống. Giá như xã hội không kì thị những con người mắc bệnh, căn bệnh ấy không nhanh chóng đẩy con người vào chỗ chết thì có lẽ nhà thơ đã không mặc cảm với hoàn cảnh của mình như vậy.

Khổ thơ thứ hai khép lại khắc sâu vào lòng bạn đọc hình ảnh mộng mơ nơi xứ Huế cùng nỗi lòng đau buồn, sự mặc cảm và còn cả niềm khao khát hoà hợp với cuộc sống.

Cuối cùng vẫn là Hàn Mặc Tử – ngôi sao xoẹt qua bầu trời văn học Việt Nam. Người ta nói thơ ông có một diện mạo hết sức phức tạp và vô cùng bí ẩn. Với ngôn ngữ thi vị và giàu sức gợi vẻ đẹp miền quê thôn Vĩ Dạ đã được ông tái hiện lại vô cùng rõ nét qua thi phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ”. Trong đó khổ thơ cuối cùng đã làm bật dậy nỗi lòng của thi nhân:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Một Vĩ Dạ vào buổi sáng sớm trong màu nắng dịu nhẹ hay một sông Hương đầy ắp ánh trăng giữa thành phố Huế mộng mơ đã dần khép lại nhường chỗ cho niềm bâng khuâng, tiếc nuối:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra”

“khách đường xa” là tác giả hay người con gái xứ Huế? Dù là ai, dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì ẩn sau câu thơ là cả một niềm khao khát được gặp gỡ, khao khát sự đồng cảm. Chữ “mơ” ở đầu câu gợi về niềm mong ước được trở về thăm Huế và cũng mơ người con gái xứ Huế sẽ chịu vượt đường sá xa xôi để gặp mình. Trên thực tế, khoảng cách về không gian là không quá xa nhưng cái xa ở đây chính là tâm tư của tác giả: sự mặc cảm về thân phận. Cũng trong niềm khao khát ấy thi nhân nhìn thấy dường như người con gái ấy trong tà áo trắng. Màu trắng vốn là biểu tượng của sự trong trắng, của những tâm hồn thánh thiện nhưng trong thơ của Hàn Mặc Tử lại là trắng quá. Nó biến màu trắng trở thành sắc màu tâm lí, là sự nhìn nhận, đánh giá của chủ thể trữ tình. Và cũng vì trắng quá mà trở nên nhạt nhòa, không nhìn rõ, mông lung và huyền ảo vô cùng. Rõ ràng là nhìn thấy nhưng lại không thể nắm bắt được. Hình bóng ấy càng khiến lòng người bồn chồn, bâng khuâng hơn bao giờ hết. Gần mà như xa, thực lại như hư:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh “

Cảnh vật đang chìm đắm trong sương khói. Ở nơi chữa bệnh, tác giả sống cách biệt với thế giới bên ngoài qua một lớp sương dày đặc nên những gì hiện lên cũng chỉ mờ ảo, không rõ ràng. Có lẽ sương khói là màu của một mối tình trong vô vọng. Từ hoàn cảnh ấy, thi nhân lại càng khao khát tìm đến với thế giới bên ngoài kia, tìm đến với tình yêu thương, đồng cảm nhưng đau đớn biết bao khi chính những con người ấy đang quay lưng, xa lánh,  lạnh nhạt với ông.

Khép lại bài thơ là một câu hỏi tu từ với nhiều ý vị:

“Ai biết tình ai có đậm đà?”

Một câu thơ chứa đến hai lần chữ “ai”. Một là phiếm chỉ, một là xác định giúp thể hiện sự băn khoăn, hoài nghi của chủ thể trữ tình về tình cảm của cô gái với mình.

Đã nhiều lúc Hàn Mặc Tử thấy mình ở vực sâu cđ,bị cđ quên lãng ,nhà thơ tự hỏi lòng mình:

“ Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa

Trời ở trong đây chẳng có mùa

Không có niềm trăng và ý nhạc

Có nàng cung nữ nhớ thương vua”

Hình ảnh thơ đẹp,ngời sáng ,lung linh huyền ảo kết nối bởi các câu hỏi tu từ làm nên 1 âm điệu dịu ngọt yêu thương mà đầy khắc khoải đã cùng nhau tạo nên thành công cho những vần thơ lắng đọng tâm tư, tình cảm của thi nhân.

Lê Thị Thư