[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

_Giới thiệu tác giả Thanh Hải và bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.

2. Thân bài:

Luận điểm 1: Mùa xuân thiên nhiên: 6 câu đầu.

  + không gian cao rộng của bầu trời, rộng dài của dòng sông, màu sắc hài hòa của bông hoa tím biếc và dòng sông xanh- đặc trưng của xứ Huế.

 + âm thanh tiếng chim chiền chiện hót vang trời, tiếng chim như đọng thành từng giọt long lanh rơi.

  +cảm xúc của tác giả thể hiện qua cái nhìn trìu mến với cảnh vật.

 + hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác do thể hiện cảm xúc say sưa,  ngất ngây của tác giả trước cảnh đất trời.

 Luận điểm 2: Mùa xuân đất nước: 10 câu tiếp

+ hình ảnh lộc xuân theo người ra trận, theo người ra đồng làm đẹp ý thơ với cuộc sống lao động và chiến đấu, xây dựng và bảo vệ. Hai nhiệm vụ không thể tách rời.

+ nhà thơ tin tưởng về tương lai tươi sáng của đất nước cho dù trước mắt còn những vất vả khó khăn.

 Luận điểm 3: Ước nguyện của nhà thơ: 8 câu tiếp

+ muốn làm những việc có ích dâng hiến cho cuộc đời.

+ làm con chim hót, làm “một cành hoa”, làm “một nốt trầm” làm một “mùa xuân nho nhỏ” góp vào mùa xuân lớn của đất nước của cuộc đời chung.

+ được hòa nhập được cống hiến sức sống, tuổi trẻ của mình cho đất nước dù bé nhỏ, giản dị, chân thành, khiêm tốn nhưng vô cùng mãnh liệt bất chấp thời gian, tuổi tác.

+ bài thơ được viết một tháng trước khi nhà thơ trở về với cát bụi nhưng không gợn chút băn khoăn về bệnh tật, những suy nghĩ riêng tư cho bản thân mà chỉ “lặng lẽ cháy bỏng một khát khao được dâng hiến”.

Luận điểm 4: Khổ cuối: Như một nhịp láy lại của khúc dân ca dịu dàng, đằm thắm, tăng giá trị biểu cảm của các khổ thơ trên đem lại thi vị Huế trìu mến, thiết tha.

Luận điểm 5: Nghệ thuật

 +   thể thơ 5 chữ.

 + hình ảnh tự nhiên giản dị.

 + cấu tứ bài thơ chặt chẽ, từ mùa xuân đất trời đến đất nước đến con người.

 + giọng điệu thể hiện đúng tâm trạng.

3. Kết bài:

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

Bài làm tham khảo

Thanh Hải là một nhà thơ được mọi người biết đến như một hiện tượng đặc biệt của thơ ca Việt Nam, là con người tài hoa, giàu sức sống nghệ thuật ông luôn cố gắng lắng nghe những âm thanh của cuộc đời ngay cả giây phút liền kề cái chết-Thanh Hải có khát khao sống, làm việc, cống hiến cho đời. “ Mùa xuân nho nhỏ” chứ không phải là cái gì lớn lao ồn ã nhưng thật tinh túy sâu sa lắng đọng mà Thanh Hải để lại cho đời trước lúc đi xa. Những vần thơ nhỏ nhẹ, trầm bổng mà ý tứ lắng sâu kì lạ, không thể thiếu được ở làn thơ xuân. Bài thơ ra đời vào những năm 80 của thế kỉ XX được xem như một lời tâm niệm đáng trân trọng của nhà thơ để lại cho đời trước lúc đi xa.

Mở đầu bài thơ là bức tranh xuân rất thực. Điều đó có nghĩa là nhà thwo đã thể hiện một cách rất sống động, chân thực cảnh sách thiên nhiên mùa xuân- cảm hứng xuân đc khơi nguồn từ mùa xuân đất trời.

“ Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng”

Cả đoạn thơ ta không thấy xuất hiện một từ “xuân” nào nhưng vẫn cảm thấy rằng đây là thiên nhiên mùa xuân không thể lẫn với bất kì mùa nào trong năm. Bởi nhà thơ đã chọn những cảnh sắc tiêu biểu nhất mang nét đặc trưng của mùa xuân: dòng sông bát ngát, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hát giữa không gian mênh mông. Bức tranh mùa xuân trên quê hương thân thuộc được Thanh Hải viết nên một cách tài hoa bở sự kết hợp tài tình giữa màu sắc và đường nét tạo ra một bức tranh mùa xuân ấm áp, trong trẻo tươi mới tràn đấy sức sống giữa thiên nhiên đất trời sau những ngày đông lạnh lẽo.

Bức tranh mùa xuân thiên nhiên trong 6 câu thơ đầu được phác họa rất sắc, rất đẹp, đó là vẻ đẹp của cảnh vật với màu sắc tươi tắn, dịu dàng:

“ Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc”

Hai câu thơ mở đầu là một nét vẽ sắc sảo từ hoa, nghệ thuật phối sắc tài tình thể hiện cái đẹp hài hòa của thiên nhiên. Nhà thơ rất khéo léo dùng tính từ xanh để diễn tả dòng nước trong xanh mát dịu trong mùa xuân. Phải chăng đó là dòng sông Hương êm đềm, phẳng lặng nơi quê cha đất mẹ của nhà thơ. Trên nền xanh của trời, của nước nổi bật màu tím biếc của hoa lục bình. Chỉ có thế là hoa lục bình dân dã hoặc là hoa sứ ta thường gặp trên ao hồ sông nước làng quê.

“ Con sông nho nhỏ tuổi thơ ta tắm

Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng

Hoa lục bình kín cả bờ sông”

“Trở về quê nội”-Lê Anh Xuân

Sắc tím của hoa biểu tượng cho lòng thủy chung của con người xứ Huế. Nhiều hình ảnh thơ quen thuộc nhưng cách tả này khá gợi và thú vị tạo ra bức tranh mùa xuân  tràn đầy sức sống. Điều đó được thể hiện ở câu thơ đầu tiên với cách viết không theo trật tự bình thường. Tác giả đã đảo vị ngữ, động từ “mọc”  được đặt lên trước chủ ngữ, đặt ở đầu bài thơ là 1 dụ ý nghệ thuật của tác giả. Nghệ thuật đó tạo cho người đọc một ấn tượng đột ngột bất ngờ. Không những vậy nó còn làm hình ảnh, sự vật trở nên sinh động như đang diễn ra trước mắt người đọc, tưởng chừng như bông hoa tím kia đang từ từ lộ ra, mọc lên, vươn lên xòa nở trên mặt nước xanh. Đồng thời câu thơ cũng như trở lên lung linh hẳn lên. Bông hoa tím ở giữa trái tim của dòng sông, trung tâm của bức tranh đang dần vươn lên, xòe nở như hội tụ vẻ đẹp của đất trời màu xuân. Cách gợi tả như vậy thật tinh tế và sáng tạo giúp ta cảm nhận được linh hồn của cảnh vật và sự hài hòa màu sắc của tự nhiên tạo nên một không gian mùa xuân cao rộng: không gian cao của bầu trời, dài của dòng sông cùng màu sắc hài hòa của bông hoa tím đang trôi như thể hiện quy luật tuần hoàn của thiên nhiên, cái đẹp muôn thủa của thiên nhiên.

Ngắm nhìn dòng sông xanh, bâng khuâng nhìn buông hoa đẹp, tâm hồn thi nhân giao cảm khi nghe tiếng chim hót vang trời- bức tranh mùa xuân ấy còn ngập tràn niềm vui rạo rực bởi âm thanh tiếng chim chiền chiện:

“ Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời”

Hai câu thơ 3,4 mở ra không gian nghệ thuật cửa bức tranh mùa xuân. Quả đúng là “ thi trung hữu họa”, “ thi trung hữu nhạc”. Nhạc chính là tiếng chim chiền chiện hót vang trời, âm thanh ấy vút cao, vang xa bay bổng rộn ràng tười vui mở ra một không gian khoáng đạt làm vui say, náo nức lòng người:

“Chiền chiện cùng cao hót

Lúa cũng vừa sậm hột”

 Trần Hữu Thung

“ Ôi tiếng hát mê say con chim chiền chiện

Trên đồng lúa chiêm xuân, trao mình bay liệng”

Tố Hữu

Ngẩng nhìn bầu trời nhà thơ lắng nghe tiếng chim chiền chiện – sơn ca xứ Huế, sứ giả mùa xuân vang ngân sáo động cả bầu trời, xao xuyến hồn thi nhân. Tiếng chim vút xa tha thiết , thi nhân không nén nổi xúc động, thốt lên lời trò chuyện, trách yêu thiên nhiên. “Ơi” là từ cảm thán, “hót chi” – giọng nói ngọt ngào như tha thiết tâm tình trò chuyện với con chim mùa xuân biểu đạt sự xúc động, bồi hồi niềm vui xôn xao trong lòng nhà thơ khi nghe chiền chiện hót, người nông dân vui mừng đóng chờ một vụ mùa bội thu.

Xem thêm:  [Văn mẫu tuyển chọn] Bình luận câu tục ngữ Có công mài sắt có ngày nên kim

Bức tranh mùa xuân càng trở nên đẹo hơn, sinh động hơn khi có sự xuất hiện của cả con người. Hình ảnh con người hiện lên trong bức tranh cảnh vật với tiếng gọi tha thiết “ơi”, “ hót chi” rất gợi cảm. Cách sử dụng các từ ngữ này với cách nói dịu ngọt của người xứ Huế. Trong lời thwo, tác giả sử dụng nghệ thuật nhan hóa không chỉ làm cho lời thơ sinh động mà còn gợi cho người đọc nhiều liên tưởng: thi nhân đang cảm xúc tha thiết với cảnh vật hay là sự tươi vui, rộn ràng của lòng người khi xuân về? Tiếng chim chiền chiện gọi xuân về ngân vang rúng động đất trời đem đến bao niềm vui, đồng thời là cách miêu tả đầy nghệ thuật, mượn tiếng chim hót gợi tả bầu trời xanh mênh mông bát ngát một không gian cao rộng, Những đường nét đó tạo thành một bức tranh mùa xuân thật đẹp, yên ả, thanh bình, rạo rực niềm vui và tràn trề sự sống. Mùa xuân sư Huế vốn trầm mặc chợt trở nên rực rỡ, đó là một nét vẽ tinh tế, điêu luyện với một tâm hồn tha thiết gắn bó với mùa xuân quê hương.

Đặc biệt, cảm xúc của nhà thơ được thể hiện trong một động tác trữ tình, đón nhận và trân trọng, tha thiết trìu mến mùa xuân, đưa tay hứng từng giọt long lanh của tiếng chim chiền chiện:

“ Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng”

Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân được miêu tả ở chi tiết rất tạo tình. Ta cảm nhận được tấm lòng hồn hậu của đứa con xứ Huế, một cử chỉ bình dị trân trọng thể hiện sự xúc động sâu xa, đáng yêu: đưa tay hứng từng giọt long lanh. Giọt long lanh ở đây không rõ là giọt gì, giọt sương hay giọt mưa xuân. Nhà thơ thật khéo léo không hề nói đến nắng mà người đọc vẫn cảm nhận được ánh hồng bình minh ấm áp làm long lanh những giọt sương như những hòn ngọc bé treo trên đầu ngọn cỏ lá cây. Tôi hứng từng giọt long lanh ấy như thâu nhận cả vẻ đẹp tinh khiết, trong sáng của thiên nhiên đất trời hào phóng ban tặng cho con người. Nhưng nếu liên hệ với câu trên thì có thể hiều “ giọt long lanh” là giọt âm thanh tiếng chim. Hiểu như vậy, ta thấy hình ảnh thơ là sự sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Thanh Hải qua nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác thật kì diệu. Tiếng chim từ chỗ là âm thanh đo cảm nhận bằng thính giác chuyển thành từng giọt có khối và hình cảm nhận được bằng thị giác.

Từng giọt long lanh ấy lại có thể cảm nhận cả bằng xúc giác. Tiếng chim chiền chiện hót vang trời những chuỗi âm thanh, những âm thanh đẹp đẽ trong sáng đó không hề mất đi mà mà đọng lại thành từng giọt hữu hình như viên ngọc rơi xuống thành chuỗi.  Cái cử chỉ “ đưa tay ra hứng” với tất cả sự say đắm, trân trọng của một hồn thơ. Hình ảnh thơ trở lên lung linh, đa nghĩa, vừa là thơ, vừa là nhạc vừa là hoa. Là giọt mùa xuân, là giọt hạnh phúc của cuộc đời- có lẽ cảm nhận của thi nhân nghiêng nhiều về phía âm thanh hơn. Nhà thơ vui say trước vẻ đẹp ngất ngây của quê hương đất nước trong thời đại mới, từ đó làm cơ sở xác định lẽ sống của mình. Điều này đáng chú ý khi Thanh Hải viết những dòng này khi mùa xuân chưa đến-11/1980. Phải yêu đời thiết tha và lạc quan lắm mới mở lòng với mùa xuân như vậy để viết lên những câu thơ dạt dào cảm hứng xuân.

Sáu câu thơ mở đầu như tiếng hát reo vui chào đón mùa xuân đẹp đẽ đã về, chỉ bằng vài nét phác họa đơn sơ những hình ảnh nho nhỏ thân quen bình dị nhà thơ đã gơi lên một bức tranh mùa xuân tười tắn như mộng đậm phong vị xứ Huế và thể hiện tình yêu tha thiết hòa nhập với thiên nhiên tạo vật.

Từ cảm xúc mùa xuân thiên nhiên đất trời nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân đât nước.

Mở đầu đoạn thơ thứ hai, nhà thơ giới thiệu hình ảnh mùa xuân đất nước trong hiện tại

“ Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy trên lưng

Mùa xuân người ra đồng

Lộc trải dài lương mạ”

Các vần thơ giống nhau về cấu trúc ngữ pháp tạo nên vẻ đẹp hài hòa, cân đối cho lời thơ. Hình ảnh thơ nhắc đến hai nhiệm vụ trong hiện tại và không thể tách rời nhau được. Đó là sản xuất và chiến đấu. Từ  “mùa xuân” được chuyển theo cách hiểu khác, nói về sự tươi đẹp, về sức sống của đất nước, con người vào mùa xuân. Thanh Hải còn sáng tạo ra cặp hình ảnh sóng đôi như hai vế của một câu đối mừng để nói về hai lớp người chủ yếu của cách mạng.  Cùngvới những hình ảnh hoán dụ “ người cầm súng”, “ người ra đồng” nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và sản xuất để xây dựng đất nước. Không những vậy, nhà thơ còn nói tới khí thế sôi nổi của con người trên 2 mặt trận đó. Hai câu thơ trước ghi lại một cảnh thực của đời sông chiến đấu, những người lính ra trận mà trên vai, trên lưng họ đầy cành lá ngụy trang.

Từ “lộc” là trồi non, cây non, cành non xanh mềm mại khi cả mùa xuân cây cối đâm trồi nảy lộc, mùa xuân đi hái lộc,…Nhưng ở ý thơ này, hình ảnh lộc non gắn liền với người cầm súng nghĩa là cành lá ấy mang lộc trồi biếc, làm ta liên tưởng đến hình ảnh người lính ra trận mang theo sức sống của cả dân tộc, chính màu xanh sức sống đó đã tiếp cho người lính thêm sức mạnh ý chí để vươn xa ra phía trước tiêu diệt quân thù. Hai câu thơ tiếp theo từ “lộc” lại gắn với hình ảnh “người ra đồng”, “lộc” ở đây chỉ màu xanh ở lá cây, ý nói ẩn dụ về những người lao động những người ươm mầm cho sự sống, ươm những hạt mầm non trên những cánh đồng quê hương. Từ “lộc” cho ta nghĩ tới những cánh đồng trải dài mênh mông với những trồi non mới nhú lên xanh mướt. Từ “lộc” còn mang theo sức sống, sức mạnh của con người. Có thể hiểu ở đây là chính con người đã tạo nên sức sống của mùa xuân thiên nhiên đất nước. Họ đem mùa xuân đến, gieo mùa xuân trên khắp mọi miền đất nước: “ lộc giắt đầy”, lộc trải dài” là hình ảnh trùng điệp làm hiện ra mùa xuân đất trời trong xanh bất tận của lộc mới. Họ trở thành người làm ra mùa xuân, bảo vệ mùa xuân, đem lại mùa xuân bình yên trên đất nước. Họ làm nên giai điệu chính của bản hợp xướng mùa xuân – mùa xuân lớn của đất nước, cách mạng. Ý thơ vô cùng sâu sắc, máu và mồ hôi của nhân dân đã góp phần tô điểm mùa xuân, giữ lấy mùa xuân mãi mãi. Bởi thế từ “mùa xuân” được lặp lại hai lần không chỉ nhấn mạnh tác giả còn bày tỏ sức sống của đất nước đang bừng lên mạnh mẽ. Đặt vào hoàn cảnh ra đời của bài thơ, những năm 80 của thế kỉ XX, đất nước ta gặp nhiều khó khăn gian khổ, vừa trải qua cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, đánh bọn bành trướng Bắc Kinh, chiến tranh biên giới phía Nam, đánh bọn Khơ me đỏ, nền kinh tế còn chưa thoát khỏi chính sách lạc hậu, bao cấp, còn nhiều khó khăn gian khổ.

Dưới cái nhìn của tác giả, công cuộc kiến thiết đất nước vẫn còn rộn ràng khắp nơi.

“ Tất cả như hối hả

Tất cả như xôn xao”

Hai câu thơ giống nhau về cấu trúc, sóng đôi nhịp nhàng, nhịp điệu câu thơ nhanh, nghệ thuật lặp cấu trúc “tất cả như” và lối so sánh trực tiếp: “ như hối hả”, “như xôn xao”. Nhà thơ Thanh Hải đã cảm nhận mùa xuân đất nước bằng những âm thanh rộn ràng, náo nức, sôi nổi trong thế đi lên. Hai từ láy “hối hả” gợi cảm giác vội vã, khẩn trương, liên tục không dừng lại, còn “xôn xao” lại khiến ta nghĩ tới những âm thanh liên tiếp vọng về hòa lẫn với nhau. Tác giả tạo cho câu thơ vang lên những nhịp điệu vui tười, mạnh mẽ gợi ra sự khẩn trương của con người trên hai mặt trận. Cả nước ta lúc này như một công trường lớn vừa chiến đấu, vừa bảo vệ, vừa lao động, sản xuất, vừa kiến thiết đất nước.

Xem thêm:  Em hãy kể tóm tắt cuộc đời Kiều Nguyệt Nga

Giọng thơ hối thúc như chính cuộc đời thực. Đằng sau những dòng chữ này người đọc còn cảm nhận được tâm trạng tác giả. Đó là tiếng lòng tác giả như đang reo vui rộn ràng trước tinh thần lao động khẩn trương của con người trong mùa xuân. Mùa xuân đất nước được làm lê từ cái hối hả ấy, sức xuân đang bừng sáng, một không khí lên đường rộn rã trong những năm tháng gian lao mà hào hùng. Đó là những hành khúc mùa xuân của thời đại Hồ Chí Minh.

Từ những cảm nhận về sức sống của mùa xuân đất nước, tác giả suy ngẫm về đất nước trong cảm nhận khái quát cùng cái nhìn suốt chiều dài lịch sử với tình cảm vừa xót xa vừa tự hảo.

“Đất nước bốn nghìn năm

Vất vả và gian lao”

Âm hưởng của những câu thơ, nhịp thơ khẩn trương kết hợp với tả thực tác giả liên tưởng từ quá khứ đến hiện tại và tương lai đất nước.  Đất nước được nhân hóa, mang sự sống con người, câu thơ đã khái quát chiều dài lịch sử của dân tộc, đất nước ta trải qua bốn nghìn năm trường tồn, dựng nước và giữ nước, giang sơn gấm vóc đẹp như ngày hôm nay chúng ta phải trai qua những bước thăng trầm, lúc suy vong cũng như lúc hưng thịnh với bao thử thách gian lao. Thời gian đằng đẵng, nhân dân ta từ thế hệ này qua thế hệ khác đem mồ hôi xương máu và tinh thần quả cảm để tạo nên non nước này. Quá trình ấy gian lao mà hào hùng bởi vì từ thời dựng nước, ta đã bị bao kẻ thù nhòm ngó xâm lăng: từ quân đội phương Bắc đến phương Tây nhưng con người Việt Nam cầm chắc tay súng, chung sức chung lòng để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, rồi thiên nhiên khắc nghiệt, bão gió lũ lụt, hạn hán luôn xảy ra để thử thách con người Việt Nam. Hai câu thơ đã đưa người đọc về quá khứ để ngẫm lại chặng đường đã qua của dân tộc nhiều chông gai, khó khăn vất vả hy sinh nhưng người Việt Nam vẫm tiến về phía trước. Nhà thơ càng tin tưởng, tự hào về sự vững vàng về tương lai tươi sáng của đất nước: “dân ta có chí và nhân nghĩa bốn nghìn năm lập quốc tỏa sáng nên văn hiến Đại Việt”

“Đất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước”

Câu thơ rất đặc sắc với hình ảnh so sánh đầy sáng tạo “đất nước như vì sao”, đây là một hình sảnh so sánh rất ý nghĩa. Cái được so sánh là đất nước, cái để so sánh là vì sao sáng. Vì sao là nguồn sáng lấp lánh, là vẻ đẹp của bầu trời đêm kì diệu của thiên hà và là hiện thân của vẻ đẹp vĩnh hằng, vũ trụ, vượt qua mọi không gian và thời gian. Sao cũng là hình ảnh rạng người trên lá cờ tổ quốc. Qua đó, tác giả Thanh Hải bộc lộ niềm tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng và giàu đẹp khẳng định cuốc đấu tranh chống áp bức của dân tộc ta đã trở thành ánh snags soi đường cho các nước noi theo, sự tồn tại của dân ta là vĩnh hằng, đất nước mãi trường tồn cũng vũ trị không bao giờ mất đi và không một thế ngăn cản được. Nhất định đất nước sẽ tỏa sáng như những vì sao trong hành trình đi đến tương lai rực rỡ, bến bờ hạnh phúc. Đó là trí quyết tâm, niềm tin sắt đá, niền tự hào lạc quan của dân tộc. Ở câu thứ hai, từ “ cứ” được đảo lên đầu kết hợp với động từ đi lên như một mệnh đề thẳng tiến khẳng định bước đi vững trãi, tự tin của dân tộc. Sau mỗi mùa xuân nhìn lại để tiếp tục vững bước đi lên. Phép nhân hóa làm cho hình ảnh đất nước hóa thành người khổng lỗ với bước đi vững chắc đang tiến về phía trước với sức mạnh của lòng nhân nghĩa và ý chí tự cường dân tộc. Câu thơ thể hiện quyết tâm cao độ, hiên ngang tiến lên phía trước, vượt qua mọi khó khăn, cảm xúc của nhà thơ là cảm xúc lạc quan, tin tưởng ngơi ca sức sống đất nước, dân tộc khi mùa xuân về – tin tưởng vào tương lai dân tộc, một niềm tin sắt đá. Mỗi mùa xuân lại về tiếp thêm sức sống mới, chúng ta đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, chiến tranh biên giới. nền kinh tế nghèo nàn,… nhưng chúng ta vẫn khẩn trương hăm hở xây dựng lại cơ đồ. Hình ảnh vì sao nhỏ khiêm nhường, bình dị nhưng vẻ đẹp của nó, ánh sáng của nó vĩnh hằng, bất diệt. Ngôi sao đất nước ấy như định hướng cho mỗi cuộc đời, vẫy gọi giục giã mỗi người cống hiến để xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn.

Khổ thơ hình ảnh chọn lọc, giọng thơ thay đổi linh hoat, lúc dồn dập, khẩn trương, lúc suy tư trầm lắng kết hợp với các phép tu từ hoán dụ, ẩn dụ, so sánh, nhân hóa vừa ca ngợi, vừa bày tỏ kiễu hãnh trong công việc xây dựng bảo vệ đất nước.Viết lên những vẫn tươi sáng trong lúc trên giường bệnh, chịu sự hành hạ của bệnh tất cái nhìn về đất nước của nhà thơ vẫn tươi vui, mãnh liệt và lòng yêu nước, yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ.

Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về một mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng dâng hiến.

“Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hào ca

Một nốt trầm xao xuyến”

Đoạn thơ là những dòng thơ sóng đôi, cân đối, nhịp nhàng với phép lặp cấu trúc ngữ pháp, điệp từ “ta” đứng đầu dòng thơ để nhấn mạnh, khẳng định ước nguyện rất chân thành xuất phát từ sâu thẳm trái tim, muốn làm những việc hữu ích dâng hiến cho đời, bày tỏ qua những hình ảnh tự nhiên, giản dị mà đẹp. Nhà thơ muốn làm “con chim hót” giữa muôn vãn tiếng chim vô tư cống hiến vườn hoa xuân rực rỡ vô tư cống hiến hương sắc cho đời. Đây là hai hình ảnh thơ được lặp ở khổ thơ đầu, nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả làm đẹp, tô điểm cho mùa xuân thì trong khổ này, ý thơ được lặp lại tạo ra sự đối ứng chặt chẽ, sự liên kết và nhạc điệu cho bài thơ và cũng có ý so sánh ngầm. Ý thơ phát triển, mở rộng hơn, bày tỏ khát vọng muốn đóng góp những gì tốt đẹp nhất cho cuộ c đời chung, sự cống hiến là tự nhiên, cũng giống con chim cất lên tiếng hót, như bông hoa tỏa hương sắc cho đời.

Không những vậy, nhà thơ còn ước nguyện mình là nốt trầm trong bản hòa ca. Trong suy nghĩ của nhà thơ, cả dân tộc ta là một bản hào ca lớn thì nhà thơ chỉ xin làm một nốt trầm nhỏ, không cao vút, vang xa nhưng lại làm xao xuyến lòng người – một sự sáng tạo hay thể hiện sự hòa nhập, lắng sâu dù rất khiêm tốn, đây là hình ảnh ẩn dụ bày tỏ những ước mơ nguyện vọng của nhà thơ muốn đóng góp những gì tinh túy cao đẹp nhất dù là nhỏ bé cho cuộc đời chung. Lời thơ cất lên từ sâu thẳm tâm hồn nhà thơ như một lời tâm sự nhỏ bé chân thành. Ba hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho cái đẹp, niềm vui, sự tài chí của đất nước và con người Việt Nam cùng với điệp từ  “ta” vang lên ở đầu các câu thơ như sự khẳng định ước nguyện chính đáng, cao đẹp thể hiện tâm hồn khao khắt được làm việc, được cống hiến nhiều nhất cho đời. Nó không chỉ là tâm niệm thiết tha, chân thành của riêng nhà thơ mà nó còn đề cập tới một vẫn đề lớn là khát vọng chung của mọi người. Cũng trong khoảng thời gian này, Tố Hữu – nhà thơ cùng quê xứ Huế đã có một khúc ca xuân với suy nghĩ tương tự:

Xem thêm:  Dàn ý bình luận và chứng minh câu nói của Bác Hồ: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy

“Nếu là con chim, chiếc lá

Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

Lẽ nào vay mà không phải trả

Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”

Tố Hữu

Thanh Hải đã chuyển cái nhỏ bé riêng tư thành cái ta lớn lao hòa chung với mọi người, một sự chuyển đổi của nhân vật trữ tình bằng giọng thơ nhỏ nhẹ, chân thành không khuôn thước ồn ào mà đằm thắm lắng đọng sâu xa, tác động mạnh mẽ vào người đọc, nhà thơ muốn khẳng định rằng: hạnh phúc là sự hòa nhập và cống hiến, đó là lẽ sống của mỗi người.

Đến khổ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục này tỏ ước nguyện, mùa xuân được chuyển thành mùa của lý tưởng, của tiếng lòng cao cả. Đây là tiếng hát của con người muốn cồng hiến, nhân vật trữ tình lúc này không còn là tôi hay ta mà bỗng biến thành:

“ Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc”

Cách diễn đạt rất đặc biệt bởi mùa xuân là một khái niệm trừu tượng, còn từ “ nho nhỏ” lại là từ gợi hình ảnh , kết hợp chúng với nhau tạo thành cụm từ khiến mùa xuân có hình khối, có hình hài xinh xắn. Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác khiến cho hình ảnh thơ trở nên hữu hình, có giá trị biểu tượng. Chỉ cá nhân cuộc đời nhà thơ, chỉ mỗi người Việt nam. Thông qua hình ảnh thơ này, nhà thơ bày tỏ ước nguyện được sống đẹp như mùa xuân, tràn đầy sức sống như mùa xuân đem sức sống ấy xây dựng cuộc đời chung, đó là khát vọng, là lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp mình làm đẹp thêm mùa xuân thiên nhiên đất nước. Ước nguyện hóa thân vô cùng cháy bỏng nhưng được tác giả âm thầm, lặng lẽ dâng cho đời. Các từ “nho nhỏ”, “lặng lẽ” gợi cách nói khiêm tốn, chân thành mà giản dị, là cách sống cao đpẹ của mỗi người hòa vào cuộc đời mình phục vụ đất nước.

“ Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc”

Điệp từ “dù là” tạp kết cấu hai câu thơ giống nhau khiến âm điệu câu thơ tha thiết sâu lắng, ý thơ nhấn mạnh làm cho người đọc không chỉ xúc động trước lờ tâm sự tha thiết của một con người đã trải qua hai cuộc kháng chiến, đã cống hiến chọn đời và sự nghiệp cho cách mạng vẫn tha thiết được sống đẹp, sống có ích với tất cả sức sống tười trẻ của mình cho cuộc đời chung. Nhà thơ còn khéo léo dùng hai hình ảnh hóa dụ “ tuổi hai mươi” và “khi tóc bạc” để gợi ra cả một cuộc đời người với cuộc hành trình dài rộng, liên tục phấn đấu không mệt mỏi. Thơ hay là ở cảm xúc chân thành, Thanh Hải đã nói những lời “ gan ruột” của mình, ông đã sống như lời thơ ông tâm tình, khi đất nước bị Mỹ Diệm và vè lũ âm mưu chia cắt làm hai, ông đã hoạt động bí mật trong vùng giặc gây dựng phong trào cách mạng coi thường cảnh máu chảy đầu rơi. Cảm động hươn nữa là khi ông sống những phút giây cuối đời trên giường bệnh không chút băn khoăn về bênh tật, những suy nghĩ cho riêng bản thân mà chỉ lặng lẽ cháy bỏng một khát khao được dâng hiến. Khổ thơ chẳng khác gì một lời hứa, lời tự nhắc mình sẽ mãi mãi là mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước. Cái công việc lặng lẽ dâng cho đời dù ở lứa tuổi nào, đâu có còn là của riêng ai, nó là khát vọng sống của cả một thời đại, của tôi, của bạn, của cả thế hệ. Những vần thơ với giọng thơ tha thiết sâu lắng ý thơ được khắc sâu, nhấn mạnh làm ánh lên vẻ đẹp tâm hồn mũa xuân của Thanh Hải nho nhỏ mà không hề nhỏ bé chút nào. Nó nói được nhiều ý nghĩa hươn cả bở đó là tâm niệm chân thành, sâu lắng nhất của một tâm hồn trước lúc đi xa, giã từ cuộc sống ngàn lần đáng trân trọng về cõi vĩnh hằng hư vô.

Khép lại bài thơ là lời ca ngời quê hương đất nước qua điệu dân ca xứ Huế.

“ Mùa xuân ta xin hát

Câu Nam Ai, Nam Bình

Nước non ngàn dặm mình

Nước non ngàn dặm tình

Nhịp phách tiền đất Huế”

Khổ thơ như một nhịp láy lại của khúc dân ca dịu dàng, đằm thắm tăng giá trị biêt hiện của các khổ thơ trên, đem lại thi vị Huế trìu mến, tha thiết như một khúc hát ca ngợi mùa xuân để lại dư vị sâu lắng. Nhà thơ muốn hát lên điệu Nam Ai, Nam Bình-hai điệu dân ca xứ Huế rất nổi tiếng mấy trăm năm nay, là điệu nhạc buồn thương dịu dàng, trìu mến tự bao đời người Huế vẫn hát để gợi nhắc lòng người nhớ về nghĩa tình thủy chung, nhớ về tình yêu quê hương đất nước. “Phách tiền” là nhạc cụ dân tộc đề điểm nhịp cho lời hát, tiếng đàn tranh, đàn tam thập lục. Câu thơ đầu diễn tả niềm khao khát, bồi hồi của nhà thơ với quê hương yêu dấu buổi xuân về, câu ca nghe như một lời từ biệt để hòa vào cõi vĩnh hằng nhưng đây không phải là lời ca buồn thủa trước, từng phách, nhịp nghe giòn giã tan xa. Nước non Việt Nam cũng như đất trời xứ Huế tươi đẹp quá, quê hương đất nước trải dài ngàn dặm chứa chan tình yêu thương còn ngân nga mãi mãi. Phải yêu đời lắm, lạc quan lắm mới có thể hát lên trong hoàn cảnh đau ống và sắp qua đời của nhà thơ. Điều đó làm ta càng yêu quý và trân trọng tiếng hát, tấm lòng nhà thơ. Một khúc ca tạo ấn tượng, bài ca không dứt. Một bài ca yêu cuộc sống, bài thơ được nhạc sĩ Trần Hoàng phổ nhạc thành bài hát và trở thành khúc ca xuân quen thuộc, xúc động còn mãi với đời.

Bài thơ là sự kết hợp hài hòa của những biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa, so sánh. Thể thơ năm chữ cùng nhịp thơ nhanh, vần điệu thơ khỏe khoắn đã tạo nên những tiếng thơ độc đáo nhất của hồn thơ Thanh Hải và nó đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ. Tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đời, sự thiết tha với cuộc sống tươi đẹp. Và phải chăng, đó cũng là tuyên ngôn tình yêu cuộc đời của nhà thơ?

Mùa xuân nho nhỏ là bài thơ đặc sắc viết về thiên nhiên, về tình yêu quê hương đất nước và càng đặc biệt hơn khi nó được tạo dựng bởi tình cảm chân thành, tha thiết của người nghệ sĩ trong những giờ phút hấp hối. Tiếng thơ trầm lắng ấy sẽ lắng sâu và đi vào lòng độc giả bao thế hệ. Lớp bụi thời gian đang làm mờ nhòa đi những giá trị cao đẹp nhất của tinh thần, của tâm hồn và nghệ thuật. Nhưng có lẽ trước một khúc ca say sưa, trìu mến được xây dựng từ tình yêu, nỗi nhớ sẽ mãi sống trong lòng độc giả.

Nguyễn Thị Thu Trang