Văn mẫu lớp 9

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

_Giới thiệu tác giả Phạm Tiến Duật và bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

2. Thân bài:

Luận điểm 1: Hình ảnh những chiếc xe không kính vẫn băng băng ra chiến trường:

_ giải thích nguyên nhân: giọng điệu thản nhiên về những chiếc xe không kính gây sự chú ý về vẻ khác lạ của nó.

_ sự dữ dội của cuộc chiến đấu qua chữ “bom” với những động từ mạnh “giật, rung”.

_Bom đạn chiến tranh còn làm những chiếc xe biến dạng thêm, trần trụi hơn:

 _Hình ảnh chiếc xe trần trụi trở thành hình tượng thơ độc đáo của thời chiến tranh chống Mỹ.

Luận điểm 2: Hình ảnh người lính lái xe:

_Tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, lạc quan coi thường gian khổ hiểm nguy.

 +người chiến sĩ vẫn vững tay lái, vừa cho xe lăn bánh ra trận, vừa kể chuyện về mình, về đồng đội.

+Tư thế ung dung, tự tin và bình thản- một hình ảnh đẹp được nhấn mạnh bằng lối đảo ngữ.

 +tinh thần trách nhiệm của một tâm hồn lãng mạn, bình thản, chủ động chiêm ngưỡng và tận hưởng từng vẻ đẹp của thiên nhiên qua ô cửa kính vỡ.

_Tâm hồn sôi nổi, lạc quan, yêu đời, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc.

 +Những chiến sĩ lái xe là những chàng trai trẻ vui tính, hóm hỉnh với những hình ảnh tinh

 +Hồn nhiên, tếu táo nhưng cũng thật cảm động trong không khí đoàn kết, trong tình đồng chí, đồng đội.

 +Càng khó khăn gian khổ, họ càng gắn bó keo sơn.

_Ý chí chiến đấu vì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

+Trải qua mưa bom bão đạn, những chiếc xe ban đầu đã không có kính, nay càng trở nên thảm hại hơn.

+Điệp ngữ “không có” được nhắc lại ba lần.

+Đối lập với tất cả những cái không có ở trên là một cái “có” .

Luận điểm 3: Đánh giá về nghệ thuật và nội dung.

 _ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường (bút pháp tả thực).

 _Ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn.

 _Hình ảnh thơ độc đáo, khác lạ.

 _Bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp của những người lính lái xe.

3. Kết bài:

Ý nghĩa và giá trị của bài thơ với thơ ca kháng chiến.

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Bài làm tham khảo

Hành trình đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta là một hành trình dài với bao gian khó, vất vả. Bước đi trên hành trình ấy là những con người hiến dâng máu xương. Hết kẻ thù phương Bắc, đến cuộc kháng chiến chống thưc dân và chống đế quốc, không khi nào không có mất mát hy sinh. Những hi sinh ấy được tái hiện trong thơ văn kháng chiến và tạo ra được tiếng vang lớn. Nhưng có mọt nhà thơ “lạ”. Ông tái hiện không khí, đau thương của chiến tranh trong sự tinh nghịch, tếu táo. Đó là Phạm Tiến Duật với Bài thơ về tiểu đội xe không kính được viết vào năm 1968.

Khổ thơ đầu tái hiện hình ảnh những chiếc xe không kính vẫn băng băng ra chiến trường. Hiện thực mà cũng lãng mạn:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi.

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời,nhìn thẳng.

Xưa nay, hình ảnh tàu xe vào thơ thường được mỹ nghệ hóa, lãng mạn hóa nhưng Phạm Tiến Duật đưa ra một hình ảnh thực đến trần trụi: “những chiếc xe không kính”. Tác giả giải thích nguyên nhân cũng rất thực bằng hai câu thơ với giọng điệu thản nhiên:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi.

Câu thơ lí giải càng gây sự chú ý về vẻ khác lạ của nó. Câu thơ thứ hai nhắc lại hai lần chữ “bom” với những động từ mạnh “giật, rung” khiến cho “kính vỡ đi rồi” càng tăng gấp bội sự dữ dội của cuộc chiến đấu. Bom đạn chiến tranh còn làm chúng biến dạng thêm, trần trụi hơn:  Không có kính rồi xe không có đèn/ Không có mui xe, thùng xe có xước. Hình ảnh này không hiếm trong chiến tranh nhưng phải có hồn thơ nhạy cảm với nét ngang tàng và tinh nghịch, thích cái lạ như Phạm Tiến Duật mới nhận ra được và đưa vào thành hình tượng thơ độc đáo của thời chiến tranh chống Mỹ. Chiến tranh khắc nghiệt đã làm những chiếc xe trở nên biến dạng. Hình ảnh những chiếc xe không kính hay cũng chính là hiện thực chiến trường gian khổ. Giữa muôn ngàn cái không có thì cái có được cũng rất đỗi đau thương “có xước”. Nhưng những buồn đau ấy đi vào thơ Phạm Tiến Duật lại trở nên thân thương, gần gũi. Tất cả như một câu chuyện tầm phào, một lời tâm sự giữa đồng đội. Ta không tìm thấy ở đó dẫu chỉ một lời than trách, kêu ca về cuộc sống thiếu thống, khổ sở.

Hiện lên đẹp nhất trong những lời thơ “không có” là hình ảnh người lính lái xe. Chính hình ảnh những chiếc xe không kính đã làm nổi bật hình ảnh những chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn. Thiếu đi những phương tiện vật chất tối thiểu lại là hoàn cảnh để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của họ đặc biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp gian khổ, khó khăn.

Các anh hiện lên trước hết với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, lạc quan coi thường gian khổ hiểm nguy:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Cùng với hình ảnh của những chiếc xe không kính độc đáo là hình tượng đẹp đẽ của những người lính lái xe xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Trên những chiếc xe ấy, người chiến sĩ vẫn vững tay lái, vừa cho xe lăn bánh ra trận, vừa kể chuyện về mình, về đồng đội.

“Ung dung buồng lái ta ngồi”

 Những câu thơ tả thực từng chi tiết. Không có kính chắn gió, các anh đối mặt với bao khó khăn, nguy hiểm. Nào “gió vào xoa mắt đắng” rồi “sao trên trời, chim dưới đất” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng và đập, quăng, ném vào buồng lái vào mặt mũi, thân mình. Cảm giác ấn tượng, căng thẳng đầy thử thách. Song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt. Trái lại tư thế các anh tư thế các anh vẫn ung dung, tự tin và bình thản- một hình ảnh đẹp được nhấn mạnh bằng lối đảo ngữ. Cùng với tư thế nổi bật ấy là tầm quan sát cao rộng với điện ngữ “nhìn, thấy” biểu hiện sự tập trung cao độ, một tinh thần trách nhiệm nhưng của một tâm hồn lãng mạn, bình thản, chủ động chiêm ngưỡng và tận hưởng từng vẻ đẹp của thiên nhiên qua ô cửa kính vỡ. Thiên nhiên còn là sự khốc liệt của bụi, gió nhưng với thái độ ngang tàn, thách thức, bất chấp. Người chiến sĩ lái xe buông những tiếng chắc gọn “Không có…. ừ thì” như một lời nói thường, nôm na mà cứng cỏi, biến những khó khăn thành điều thú vị, với ý nghĩa táo tợn “Chưa cần… cây số nữa”. Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút bươn trải trên đường. Có chỗ nhịp nhàng, trong sáng như văng vẳng tiếng hát vút cao. Ấy cũng là tâm hồn của người lính lái xe Trường Sơn. Trong trái tim họ, chỉ có niềm tìn, chỉ có ý chí tiến về phía trước. Và tinh thần lạc quan trở thành sức mạnh để họ vượt lên mọi gian khổ, nguy nan nơi chiến trường.

Người lính lái xe Trường Sơn là những người mang tâm hồn sôi nổi, lạc quan, yêu đời, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Hay:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Ðã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Những chiến sĩ lái xe là những chàng trai trẻ vui tính, hóm hỉnh với những hình ảnh tinh nghịch “Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc/ Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Đó là khúc nhạc vui của tuổi mười tám đôi mươi gợi cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản, xua tan những khó khăn, nguy hiểm. Họ hồn nhiên, tếu táo nhưng cũng thật cảm động trong không khí đoàn kết, trong tình đồng chí, đồng đội. Càng khó khăn gian khổ, họ càng gắn bó keo sơn. Từ trong bom đạn nguy hiểm “tiểu đội xe không kính” được hình thành, tụ họp:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Ðã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Chỉ một cái bắt tay cũng ấm lòng, đủ động viên nhau, cảm thông với nhau. Cái bắt tay truyền cho nhau cả tâm hồn, tình cảm, giúp con người xích lại gần nhau trong những cái chung: chung bát đũa, nắm cơm, bếp lửa, chung hoàn cảnh, chung con đường với vô vàn thách thưc nguy hiểm phía trước. Khi hành quân, các anh động viên, chào hỏi nhau trong cảnh ngộ độc đáo. Lúc tới đích, các anh trò chuyện, nghỉ ngơi xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt để rồi chỉ trong thoáng chốc tất cả những tình cảm ấm lòng ấy là hành trang giúp các anh tiếp tục lên đường:

 “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”.

Trong tâm trí những người lính lái xe luôn chan chứa hi vọng, niềm lạc quan, yêu đời. Họ cùng nhau vượt lên gian khó để có thể tiến vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Họ cùng là đồng chí, cùng là anh em. Gian khổ không cản nổi tinh thần và ý chí đoàn kết trong họ.

Ý chí chiến đấu vì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước luôn là trăn trở, luôn là nỗi đau khôn nguôi thường trực trong tâm trí người lính với tuổi đời phơi phới:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Đó là lời thơ chứa chan cảm xúc của Phạm Tiến Duật nhưng cũng là lời tự hứa cho một tương lai của tổ quốc. Trải qua mưa bom bão đạn, những chiếc xe ban đầu đã không có kính, nay càng trở nên thảm hại hơn, vật chất ngày càng thiếu thốn:

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe thùng xe có xước

Điệp ngữ “không có” được nhắc lại ba lần nhấn mạnh sự thiếu thốn đến trần trụi của những chiếc xe, còn cho ta thấy mức độ ác liệt của chiến trường. Nhưng không có gì có thể cản trở được sự chuyển động kỳ diệu của những chiếc xe không kính ấy. Bom đạn quân thù có thể làm biến dạng cái xe nhưng không đè bẹp được tinh thần, ý chí chiến đấu của những chiến sĩ lái xe: xe vẫn chạy không chỉ vì có động cơ máy móc mà còn có một động cơ tinh thần “ Vì miền Nam phía trước”. Đối lập với tất cả những cái không có ở trên là một cái “có” . Đó là trái tim- sức mạnh của người lính. Sức mạnh con người đã chiến thắng  bom đạn kẻ thù. Trái tim ấy thay thế cho tất cả những thiếu thốn “không kính, không đèn, không nản” hợp nhất với người chiến sĩ lái xe thành một cơ thể sống để tiếp tục tiến lên phía trước, hướng về miền Nam thân yêu. Trái tim yêu thương, trái tim can trường của người chiến sĩ lái xe trở thành nhãn tự  cô đúc ý của toàn bài, hội tụ vẻ đẹp của người lính và để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc. Trái tim người lính tỏa sáng rực rỡ mãi đến mọi thế hệ mai sau khiến ta không quên một thế hệ thanh niên thời kỳ chống Mỹ oanh liệt của dân tộc.

Tác giả đã đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường. Bên cạnh đó là ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn. Hình ảnh thơ độc đáo, khác lạ. Phạm Tiến Duật dùng những ẩn dụ, hoán dụ, những điệp từ với sức gợi cảm cao để người đọc hiểu được những tình cảm, cảm xúc trong toàn bài.  Bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp của những người lính lái xe- hình ảnh tiêu biểu, cụ thể của thế hệ trẻ Việt Nam thời đại chống Mỹ. Chiến tranh gian khổ thiếu thốn, chiến trường ác nghiệt ấy đã trở thành những đau đớn khôn nguôi song niềm tin, sự tếu táo lạc quan mới làm nên chiến thắng thực sự cho tổ quốc.

Đã mấy chục năm trôi qua từ thời chiến tranh gian khổ. Có lẽ nỗi đau chiến tranh đã và đang ngày một xa dần với thế hệ trẻ, nhưng mỗi người khi được tiếp xúc với những vần thơ kháng chiến như Bài thơ về tiểu đội xe không kính sẽ không khỏi bùi ngùi xúc động cho một thế hệ, cho một thời oanh liệt của tổ quốc ta. Và trách nhiệm của mỗi chúng ta hôm nay chính là ra sức học tập vì tổ quốc, vì những hi sinh của cha ông.

Nguyễn Thị Thu Trang