Văn mẫu lớp 12

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích hình tượng ông lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích hình tượng ông lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận: hình tượng ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân.

– Khái quát chung

2. Thân bài:

* Khái quát:

Cách giới thiệu của Nguyễn Tuân về ông lái đò sông Đà thật tự nhiên ” Ông lái đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc sông Đà đã hơn 10 năm và đã thôi nghề lái đò cũng đã chục năm nay”. Ông đã có hơn 100 lần vượt thác với hơn 60 lần làm thuyền trưởng.

* Phân tích:

– Trùng vi thạch trận thứ nhất:

+ Con sông là nham hiểm đã dàn trận địa từ trước ” giao việc cho mỗi hòn…bày thạch trận trên sông” với bốn cửa tử và một cửa sinh.

+ Đá còn chia thành ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền.

+ Lũ đá tướng dùng mẹo phục binh cho hai hòn đá cánh cửa trông như là sơ hở nhằm dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa để tiến sâu vào trận tuyến giữa để đánh khuýp quật vu hồi làm lật ngửa con thuyền ra.

+ Chặng này hiện lên như một trận đồ bát quái với nhiều vòng vây cùng với sự hợp sức đầy dữ tợn của sóng nước.

+ Ông vẫn cố gắng kìm nén chịu đựng những nỗi đau về mặt thể xác “cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng”.

+ Giữ vững sự tỉnh táo của một người cầm lái, giữ vững lòng dũng cảm gan dạ của một người nghệ sĩ chèo đò để phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất.

– Trùng vi thạch trận thứ hai:

+ “không một chút nghỉ tay nghỉ mắt, phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”

+ Có thêm nhiều cửa tử nhằm đánh lừa con thuyền bước vào và cửa sinh thì được bố trí lệch qua bờ hữu ngạn còn dòng thác thì “hùm beo đang hồng hộc tế mạnh”.

+ “ông lái đò đã nắm  chắc binh pháp của thần sông thần đá, đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”.

+ “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”.

=>Người nghệ sĩ trên mặt trận sông nước ấy vẫn luôn giữ cho mình một tâm thế tỉnh táo.

-Trùng vi thạch trận thứ ba:

+ Cửa sinh đặt ngay giữa lòng sông, được canh giữ bởi bọn đá hậu vệ.

+ Hai bên phải trái đều là luồng chết cả.

+  Hình ảnh ông lái đò hiện lên thật bệ vệ, ngạo nghễ “phóng thẳng con thuyền chọc thủng cửa giữa”, “thuyền vút qua cánh cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút cửa trong, cửa ngoài lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”.

+ Dù sóng nước có ghùn ghè quanh năm thì ông lái đò vẫn chẳng một chút nao núng, vẫn giữ chắc mái chèo, chèo bằng tất cả niềm tin yêu của bản thân.

– Sau quá trình vượt thác đá sông Đà:

+ Ông lái đò lại quay trở về với cuộc sống đời thường vốn có, một cuộc sống bình yên lặng lẽ không tính toán lo âu.

+ Sông nước lại yên lặng đến vô cùng “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Nhà đò đốt lửa…nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ và cá dầm xanh”.

+ Ông coi việc đối mặt với con sông Đà hằn học kia chỉ là một chuyện hết sức bình thường, không đáng để bàn tán, kể lể.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

– Cảm nhận cá nhân

Phân tích hình tượng ông lái đò

Bài văn tham khảo

“Về Tây Bắc nơi rừng thương núi nhớ

Rượu cần say như tình thuở ban đầu

Tuy xa lắm nhưng không hề cách trở

Như tấm lòng đôi lứa đã yêu sâu”

Đó là một trong những khúc ca ngọt lịm về mảnh đất Tây Bắc. Trong những ngày tháng cả nước lên đường nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tâm hồn Tây Bắc đã có không ít các nhà văn nghệ sĩ đã hướng mình đến với mảnh đất nơi đây để thăng hoa cho ngòi bút. Và Nguyễn Tuân một người luôn nhìn nhận con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ cũng đã đến với người lái đò trên mặt trận sóng nước sông Đà như một lẽ đương nhiên. Và hình ảnh của người lái đò sông Đà qua tùy bút cũng hiện lên trên hai phương diện: là người lao động đầy trí dũng trên sông nước và người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh.

Cách giới thiệu của Nguyễn Tuân về ông lái đò sông Đà thật tự nhiên ” Ông lái đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc sông Đà đã hơn 10 năm và đã thôi nghề lái đò cũng đã chục năm nay”. Ông đã có hơn 100 lần vượt thác với hơn 60 lần làm thuyền trưởng. Ông đã ở vào độ tuổi “Nhân thấp thập cố lai hi” nhưng hình ảnh của ông hiện lên vẫn rất lẫm liệt: cái đầu quắc thước đặt trên thân hình cao to, gọn quánh như chất sừng chất mun,  đôi tay thì lêu nghêu như cái sào. Trên ngực, trên bả vai ông lái đò có những khoanh củ nâu mà Nguyễn Tuân thường gọi đó là “thứ huân chương lao động siêu hạng”, là thứ “đồng tiền tụ máu” của người anh hùng trên mặt trận sông nước. Nguyễn Tuân còn đặc tả về ngoại hình của ông lái đò “chân ông khuỳnh khuỳnh kẹp lấy một cuống lái trong tưởng tượng”, giọng nói thì “ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông”. Như vậy, hình ảnh ông lái đò ghi dấu ấn của những năm tháng vượt thác leo ghềnh đầy gian truân, vất vả.

Ngòi bút của Nguyễn Tuân xoáy sâu hơn nữa, tập trung khắc họa hình ảnh ông lái đò trên mặt trận sông Đà qua ba trùng vi thạch trận.

Bước vào trận giao tranh đầu tiên con sông là nham hiểm đã dàn trận địa từ trước ” giao việc cho mỗi hòn…bày thạch trận trên sông” với bốn cửa tử và một cửa sinh. Hơn cả thế đá còn chia thành ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền. Câu văn đã phô ra hết được cái dữ dội và nguy hiểm luôn rình rập, bủa vây  trên con sông này. Tại đây lũ đá tướng dùng mẹo phục binh cho hai hòn đá cánh cửa trông như là sơ hở nhằm dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa để tiến sâu vào trận tuyến giữa để đánh khuýp quật vu hồi làm lật ngửa con thuyền ra. Tác giả dành phần nhiều để khắc tả khí thế trong trận tuyến thứ ba. Khi mà nhiệm vụ của những boong-ke chìm và pháo đài là phải đánh tan cái thuyền lọt ở dưới đá tuyến trên và cả thuyền trưởng. Chúng dùng mưu khích tướng có một hòn đá nếu trông nghiêng thì y như là đang hất hàm với con thuyền là dấu hiệu của sự thách thức con thuyền có giỏi thì lao vào đây.

Chặng này hiện lên như một trận đồ bát quái với nhiều vòng vây cùng với sự hợp sức đầy dữ tợn của sóng nước. Ngay vừa khi bước vào trận tuyến thứ ba, chúng đã lập tức tấn công tới tấp, “mặt nước hò la vang dậy…ùa vào mà bẻ gãy cán chèo” thế rồi “nước bám lấy thuyền như đô vật túm lấy thắt lưng”,”sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất” là ” bóp chặt lấy hạ bệ người lái đò” hình ảnh của ông lái đò hiện lên vẫn thật ngời sáng qua từng câu chữ. Ông vẫn cố gắng kìm nén chịu đựng những nỗi đau về mặt thể xác “cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng”. Nguyễn Tuân còn miêu tả nét mặt của người lái đò sông Đà méo bệch chứ không phải là là méo xệch. Trước cái dữ dội của thiên nhiên tạo hóa con người vẫn không chùn bước nản chí trái lại hình ảnh của ông lái đò hiện lên vẫn thật ngạo nghễ ” cố nén vết thương”, vẫn luôn sẵn sàng trong tư thế kẹp chặt lấy cuống lái để chiến đấu. Cứ như vậy trước từng chiến thuật “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” của sông Đà mà ông lái đò vẫn giữ vững sự tỉnh táo của một người cầm lái, giữ vững lòng dũng cảm gan dạ của một người nghệ sĩ chèo đò để phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất.

Bước sang trùng vi thạch trận thứ hai, Nguyễn Tuân viết “không một chút nghỉ tay nghỉ mắt, phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật” đã nhấn mạnh những khó khăn cứ thế mà tiếp nối, nhân lên gấp bội qua mỗi trùng vi thạch trận. Tại đây đã có thêm nhiều cửa tử nhằm đánh lừa con thuyền bước vào và cửa sinh thì được bố trí lệch qua bờ hữu ngạn còn dòng thác thì “hùm beo đang hồng hộc tế mạnh”. Bất chợt sông Đà quy tụ đầy đủ sức mạnh, trở thành một con thú hoang đang lồng lộn, quằn quại giữa đất trời Tây Bắc. Dù có dữ dội đến đâu thì tất cả đều nằm trong lòng bàn tay của ông lái đò, ông hiểu rõ, hiểu tường tận về quy luật của nó “ông lái đò đã nắm  chắc binh pháp của thần sông thần đá, đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. Ông lái đò được Nguyễn Tuân mệnh danh là một tay lái ra hoa khi đối mặt với cái hiểm ác của con sông Đà. Tùy vào từng bọn đá mà ông có cách ứng phó riêng “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Bằng cách dùng từ linh hoạt, dựng cảnh tài hoa Nguyễn Tuân đã vẽ lên hành trình vượt thác của ông lái đò chẳng khác nào một trận thủy chiến đầy cam go. Người nghệ sĩ trên mặt trận sông nước ấy vẫn luôn giữ cho mình một tâm thế tỉnh táo. Cuối cùng ông đã vượt qua được cửa ải thứ hai này bằng tất cả sự tài hoa và trí tuệ của mình dẫu cho bọn sóng thác vẫn không ngừng khiêu khích.

Nhưng có lẽ ấn tượng hơn cả vẫn là sự linh hoạt của ông lái đò khi bước vào trận giao tranh cuối cùng. Ở vòng này, nguy hiểm tiếp tục gia tăng, cửa sinh đặt ngay giữa lòng sông, được canh giữ bởi bọn đá hậu vệ. Hai bên phải trái đều là luồng chết cả. Hình ảnh ông lái đò hiện lên thật bệ vệ, ngạo nghễ “phóng thẳng con thuyền chọc thủng cửa giữa”, “thuyền vút qua cánh cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút cửa trong, cửa ngoài lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”. Một loạt những từ ngữ “vút, vút”, “xuyên nhanh”, “vừa xuyên vừa lái được lượn được” đã làm hiện lên hình ảnh ông lái đò trong những động tác thuần thục, dứt khoát. Dù sóng nước có ghùn ghè quanh năm thì ông lái đò vẫn chẳng một chút nao núng, vẫn giữ chắc mái chèo, chèo bằng tất cả niềm tin yêu của bản thân. Chính cuộc đời lái đò đã tôi luyện lên một “tay lái đò lão luyện” trên mặt trận sông nước.

Sau quá trình vượt thác đá sông Đà, ông lái đò lại quay trở về với cuộc sống đời thường vốn có, một cuộc sống bình yên lặng lẽ không tính toán lo âu. Sông nước lại yên lặng đến vô cùng “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Nhà đò đốt lửa…nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ và cá dầm xanh”. Ông coi việc đối mặt với con sông Đà hằn học kia chỉ là một chuyện hết sức bình thường, không đáng để bàn tán, kể lể. Đó là khí chất nghệ sĩ toát ra từ mỗi con người bình thường luôn ung dung, thanh thản sau những thác lũ của cuộc đời.