Văn mẫu lớp 12

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông Việt Nam qua tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông Việt Nam qua tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông Việt Nam qua tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Khái quát chung

2. Thân bài:

* Sông Đà là một con sông hiền hòa, thơ mộng, trữ tình.

– Từ trên cao nhìn xuống mang đến cho tác giả một cách nhìn nhận hoàn toàn khác về con sông này:

+“cái dây thừng ngoằn ngoèo”.

=> cái nhìn khái quát về dáng vẻ uốn lượn của sông Đà.

+ “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

+ Điệp từ “tuôn dài” được lặp lại liên tiếp đến hai lần gợi mở ra chiều dài miên man trải dài khắp một dải đất Tây Bắc.

+ Hình ảnh “áng tóc trữ tình” gợi mở nhiều liên tưởng thú vị.

+ Điểm xuyết giữa đất trời Tây Bắc là sắc trắng của những bông hoa ban và sắc đỏ của những bông hoa gạo.

– Vẻ đẹp thay đổi sắc màu theo mùa của dòng sông Đà.

+ Mùa xuân, sông Đà mang một màu xanh ngọc bích

+ Sang thu, sông Đà mang một màu “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa….một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

– Từ trong rừng đi ra:

+ “như một cố nhân”.

+  Đến với sông Đà Nguyễn Tuân như thấy lòng mình trẻ lại rồi “trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”.

+ Màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”.

+ “Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà”.

– Khi ngồi trên con thuyền trôi giữa dòng nước sông Đà

+“thuyền tôi trôi trên Sông Đà” nghe thật thư thái.

+ Nguyễn Tuân miêu tả sông Đà đầy sinh động “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm…”.

+ Sông Đà rất giàu có và hào phóng. Dòng sông đã mang đến cho những ngư dân quanh đây nào là cá dầm xanh, cá anh vũ,…

* Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường: vẻ đẹp mềm mại trữ tình của dòng sông Hương theo thủy trình của nó

– Tại ngoại vi thành phố Huế:

+ “một người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” được người tình mong đợi đến đánh thức

+ Chuyển dòng liên tục và hành trình của dòng sông như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó.

+ Từ ngã ba Tuần, sông chảy theo hướng Nam Bắc

+ Sông Hương từ ngã ba Tuần xuôi về Huế mềm như một tấm lụa với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi.

+ Nước sông Hương: ” sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”

+ Dáng vẻ trầm mặc như triết lý như cổ thi, có lúc uốn lượn qua những đám quần sơn, những lăng tẩm vua chúa đồ sộ lan tỏa khắp cả một vùng thượng lưu.

+ Bút pháp kể và tả được kết hợp nhuần nhuyễn vốn kiến thức địa lý được vận dụng vô cùng rộng rãi và phong phú cùng trí tưởng tượng bay bổng tác giả đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của sông Hương trong sự kỳ thú giữa nó với thiên nhiên ở ngoại vi thành phố Huế.

– Sông Hương giữa lòng thành Huế:

+ Như một cô gái đã tìm gặp được người tính mong đợi của mình.

+ Nó trở nên vui tươi giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long.

+ Sông Hương hiện lên trong đường nét mềm mại như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu.

+ Sông Hương chảy như một bản nhạc trữ tình sâu lắng dành riêng cho Huế

– Khi rời khỏi thành phố Huế:

+ Dòng chảy của sông Hương chếch hướng chính Bắc ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng sương khói.

+ Khúc quanh đột ngột ấy giống như một nỗi vấn vương và dường như còn một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu..

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

– Cảm nhận cá nhân

Phân tích vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông Việt Nam

Bài văn tham khảo

Nếu như Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn am hiểu, có vốn kiến thức sâu rộng về mảnh đất và con người xứ Huế thì Nguyễn Tuân lại là một cây bút chuyên khám phá nhìn nhận con người, sự vật, sự việc trên phương diện tài hoa nghệ sĩ. Đến với tùy bút “Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân thực sự đã chứng tỏ được nét tài hoa, điêu luyện trong ngòi bút của mình với một con sông không chỉ hùng vĩ, dữ dội mà cũng vô cùng thơ mộng. Còn khi bắt gặp “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thấy ở đó một dòng sông Hương xứ Huế tĩnh lặng, êm đềm. Hai nét đẹp ấy đã cùng hội tụ để vẽ nên cái thơ mộng và đầy trữ tình của những dòng sông Việt Nam.

Từ trên cao nhìn xuống “Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một ánh tóc trữ tình đầu tóc trên tóc ẩn hiện trong mây trời xứ Huế…” đã mang đến cho người đọc phải nhìn nhận đầu tiên về dáng vẻ mềm mại của con sông này. Nó giống như một mái tóc của một người phụ nữ đẹp được điểm xuyết trên đó là những bông hoa ban hoa gạo. Không chỉ có cái mềm mại, uyển chuyển mà đặc trưng của sông Đà còn là sự thay đổi sắc nước theo mùa. Mùa xuân nước sông xanh màu ngọc bích chứ không phải màu xanh canh hến của sông Gâm hay sông Lô. Bước sang thu, nước sông Đà đỏ như da mặt của một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ một  màu đỏ giận giữ như bực bội gì mỗi độ thu về. Tác giả còn phủ định rằng: trong thời Pháp chiếm giữ, chúng gọi sông Đà là sông Đen nhưng “chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen”.

Đã có những lần sông Đà hiện lên như một vị cố nhân. Đến với sông Đà Nguyễn Tuân như thấy lòng mình trẻ lại rồi “trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Để rồi trong nỗi niềm bâng khuâng khi đi xa thấy nhớ khi gặp lại thấy vui khiến cho tác giả như trẻ lại ” vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Sắc nắng sông Đà cũng thật lạ, đó là một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Một sắc nắng giòn tan sau những kì mưa dầm ngây ngất lòng người – một màu nắng tinh khôi.

Có cả những khoảnh khắc dòng sông Đà hiện lên trong sự lặng lẽ hoang sơ như từ thuở hồng hoang nguyên thủy ” Hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”, không một bóng người, nương ngô nhú lên mấy lá non đầu mùa trên đồi cỏ gianh còn ướt đẫm sương đêm, bờ sông hồn nhiên như một miền cổ tích xưa. Tác giả đã tạo nên một không gian trữ tình đủ để khiến cho người đọc có cảm giác bị quyến rũ trước vẻ đẹp hữu tình và thơ mộng của dòng sông Đà.

Đến với sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường ta bắt gặp ở đó là vẻ đẹp mềm mại trữ tình của dòng sông Hương theo thủy trình của nó. Tại ngoại vi thành phố Huế sông Hương được so sánh như “một người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” được người tình mong đợi đến đánh thức. Sông Hương chuyển dòng liên tục và hành trình của dòng sông như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông chảy theo hướng Nam Bắc, tại Vấp Ngọc Trản  sông chuyển hướng Tây Bắc, đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía Đông Bắc và ôm lấy chân rồi Thiên Mụ rồi xuôi dần về Huế. Với sự quan sát tỉ mỉ và một tâm hồn tinh tế nhạy cảm sông Hương từ ngã ba Tuần xuôi về Huế mềm như một tấm lụa với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi. Nước sông hương theo thay đổi theo thời gian trong ngày ” sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” được tạo nên từ những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời. Dáng vẻ trầm mặc như triết lý như cổ thi, có lúc uốn lượn qua những đám quần sơn, những lăng tẩm vua chúa đồ sộ lan tỏa khắp cả một vùng thượng lưu. Cuối cùng mặt nước sông Hương trở nên phẳng lặng khi nó nghe thấy tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga.

Bút pháp kể và tả được kết hợp nhuần nhuyễn vốn kiến thức địa lý được vận dụng vô cùng rộng rãi và phong phú cùng trí tưởng tượng bay bổng tác giả đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của sông Hương trong sự kỳ thú giữa nó với thiên nhiên ở ngoại vi thành phố Huế.

Hình ảnh của sông Hương giữa lòng thành Huế được tác giả miêu tả giống như một cô gái đã tìm gặp được người tính mong đợi của mình. Nó trở nên vui tươi giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long. Nó kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Từ cồn Giã Viên sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến. Sông Hương hiện lên trong đường nét mềm mại như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu. Sông Hương chảy như một bản nhạc trữ tình sâu lắng dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn cánh hoa đăng bồng bềnh. Sông Hương giữa lòng thành Huế như một mặt hồ yên tĩnh.

Khi rời khỏi thành phố Huế dòng chảy của sông Hương chếch hướng chính Bắc ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng sương khói. Rồi nó đột ngột đổi dòng ngoặt sang hướng Đông Tây. Theo tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường,khúc quanh đột ngột ấy giống như một nỗi vấn vương và dường như còn một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Với vốn kiến thức địa lý sâu rộng kết hợp với lịch sử và văn hóa bút pháp nghệ thuật so sánh hình ảnh của dòng sông Hương hiện lên sống động và trở nên gần gũi thân thiết với con người.

Như vậy, với “Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân đã vẽ nên một con sông Đà với vẻ đẹp trữ tình thơ mộng như một vị cố nhân còn Hoàng Phủ Ngọc Tường lại cho thấy một dòng sông Hương mang nét trầm mặc, dịu nhẹ, thanh tĩnh. Hai dòng sông, qua hai ngòi bút đều khoác cho nó một nét đẹp riêng, một tính cách riêng nhưng nhìn chung lại vẫn là sự thơ mộng, trữ tình. Hai dòng sông ấy là biểu hiện cho sự thơ mộng, nên họa nên thơ của mọi dòng sông trải dài trên dải đất chữ S thân yêu.

Lê Thị Thư

Đánh giá bài viết